Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Inverse, nam diễn viên từng đoạt giải Oscar đã tiết lộ rằng một số cảnh rằng anh ấy đã bắn đã được cắt từ lần lắp ráp cuối cùng, bởi vì họ quá mạnh mẽ và cực đoan. Bale đã không tiết lộ chính xác những gì đã xảy ra trong các phần bị xóa của bộ phim Thor: Tình yêu và Sấm sét.
Cái này là do sự không đồng nhất về ý kiến .Một bên nói đức mẹ Maria mang thai chúa Jesu là do chúa trời ban tặng.Một bên nói là đức mẹ Maria không đồng trình và ko thờ tượng.vv nói chung thiếu khoa học trầm trọng.Con người ai cũng có cha mẹ ruột thịt và được sinh ra từ núm ruột chứ không có chúa trời
Chúa luôn cầu nguyện một mình, dù các môn đệ vẫn ở bên cạnh. Chúa Giêsu dạy phải cầu nguyện như Người hằng cầu nguyện (Lc 6,12); cầu nguyện cho các địch thù (Lc 6,28); vững tâm cầu nguyện đón chờ ngày Chúa đến (Lc 21,36); cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ (Lc 22,40.46
Đức Giêsu vì yêu chúng ta không những Người đã hy sinh chịu chết trên Thập Tóm lược phương pháp đọc Kinh Thánh theo Lectio Divina Nghĩa văn tự của Thánh Kinh không phải là nghĩa đen nhưng là nghĩa được diễn tả cách trực tiếp bởi các thánh sử, một nghĩa được hiểu
Nói cách khác, Chúa Giêsu không thể cứu chuộc chúng ta mà không có Ðức Maria. Vì thế Ðức Maria phải là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc. Nhưng dù Ðức Maria đã đồng công với Chúa Giêsu, sự đồng công của Bà không hề, mà cũng không thể làm giảm giá trị bất cứ một việc
TÓM LƯỢC VỀ CUỘC ĐỜI CHÚA GIÊSU - Thơ Phải ăn ở thật thà ngay thẳng Nhưng cũng cần tinh sáng khôn ngoan Những ai vất vả nhọc nhằn Hãy tìm nơi Chúa ủi an , hộ phù 205. Học với Chúa Hiền từ khiêm nhượng Hiến thân chịu chết cho người trần gian 485. Một tên lính
0GfBHxA. Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 6/10/2021 Đức Thánh Cha giải thích về giáo huấn của thánh Phaolô về sự tự do Kitô giáo. Sự tự do thoát khỏi tội lỗi của chúng ta xuất phát từ Thập giá Chúa Kitô. Qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người, Chúa Giêsu Kitô đã mặc khải tình yêu sâu xa của Thiên Chúa, và dạy chúng ta rằng sự trao tặng hoàn toàn bản thân để phục vụ người khác, ngay cả cho đến chết, là dấu hiệu của sự tự do cao nhất. Hồng Thủy - Vatican News Đối với thánh Phaolô, tự do là một món quà, là hoa trái của sự sống mới của chúng ta trong Chúa Kitô. Qua bí tích rửa tội, chúng ta đã được giải thoát khỏi sự trói buộc với tội lỗi và được giải thoát để có một đời sống yêu thương quảng đại theo Tin Mừng. Chúa Giêsu nói với chúng ta “Nếu anh em ở lại trong lời Thầy… anh em sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng anh em” Ga 8,31-32. Do đó, sự tự do của Kitô hữu được đặt nền tảng trên ân sủng của Thiên Chúa, món quà được ban cách nhưng không cho chúng ta, và trên chân lý của Chúa Kitô. Qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người, Chúa Giêsu Kitô đã mặc khải tình yêu sâu xa của Thiên Chúa, và dạy chúng ta rằng sự trao tặng hoàn toàn bản thân để phục vụ người khác, ngay cả cho đến chết, là dấu hiệu của sự tự do cao nhất. Bài giáo lý của Đức Thánh Cha Tự do là một kho báu mà chúng ta chỉ thực sự trân trọng khi nó đã mất đi. Đối với nhiều người trong chúng ta, quen với cuộc sống tự do, tự do thường có vẻ như là một quyền có được hơn là một món quà và một di sản cần được bảo tồn. Có bao nhiêu hiểu lầm xung quanh chủ đề tự do, và bao nhiêu cái nhìn khác nhau đã xung đột trong nhiều thế kỷ! Trong trường hợp của tín hữu Galát, thánh Tông đồ không thể chịu được khi những Kitô hữu đó, sau khi đã biết và đón nhận chân lý về Đức Kitô, lại để mình bị lôi cuốn bởi những đề nghị lừa dối, từ tự do trở thành nô lệ từ sự hiện diện giải thoát của Chúa Giêsu đến tình trạng nô lệ của tội lỗi, của chủ nghĩa nệ luật. Đức Thánh Cha lưu ý Ngay cả chủ nghĩa nệ luật ngày nay cũng là vấn đề của chúng ta, của nhiều Kitô hữu đang ẩn náu trong chủ nghĩa luật lệ, trong luân lý. Do đó, thánh Phaolô mời gọi các Kitô hữu hãy kiên định với tự do mà họ đã lãnh nhận khi chịu phép rửa, không để mình rơi vào lại dưới “ách nô lệ” Gl 5, 1. Lời rao giảng ngăn cản tự do trong Chúa Kitô thì không phải là truyền giáo Đức Thánh Cha nói tiếp Thánh Phaolô đã bảo vệ cách chính đáng sự tự do này. Ngài biết rằng một số “người giả danh giả nghĩa anh em” đã len lỏi vào cộng đoàn để “dò xét” sự tự do mà chúng ta có được trong Đức Kitô Giêsu, “nhắm khiến chúng ta trở thành nô lệ” Gl 2, 4, và thánh Phaolô không thể chịu được điều này. Một lời rao giảng mà ngăn cản sự tự do trong Chúa Kitô sẽ không bao giờ là việc truyền giáo. Chúng ta không bao giờ có thể ép buộc nhân danh Chúa Giêsu, chúng ta không thể khiến bất kỳ ai trở thành nô lệ nhân danh Chúa Giêsu, Đấng ban cho chúng ta được tự do. Tự do là một món quà được ban cho chúng ta trong bí tích rửa tội. Hai trụ cột của tự do Kitô giáo Theo Đức Thánh Cha, giáo huấn của thánh Phaolô về tự do cũng theo giáo huấn của Chúa Giêsu. Ngài nói Nhưng trên tất cả, giáo huấn của thánh Phaolô về tự do là điều tích cực. Thánh Tông đồ đề xuất giáo huấn của Chúa Giêsu, mà chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng thánh Gioan “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” 8,31-32. Vì vậy, lời kêu gọi trước hết là ở lại trong Chúa Giêsu, nguồn chân lý giải thoát chúng ta. Do đó, tự do Kitô giáo được đặt trên hai trụ cột cơ bản thứ nhất, ân sủng của Chúa Giêsu; thứ hai, chân lý mà Đức Kitô mặc khải cho chúng ta và sự thật đó là chính Người. 1. Tự do là món quà của tình yêu Đức Thánh Cha giải thích Trước hết đó là một món quà của Chúa. Sự tự do mà tín hữu Galát nhận được - và chúng ta cũng giống như họ, nhận được nhờ bí tích rửa tội – xuất phát từ sự chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô tập trung toàn bộ giáo huấn của ngài vào Đức Kitô, Đấng đã giải thoát ngài khỏi những ràng buộc với đời sống quá khứ chỉ nơi Chúa mới trổ sinh những hoa trái của sự sống mới theo Thánh Linh. Trên thực tế, sự tự do chân thật nhất, thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi, nảy sinh từ Thập giá của Chúa Kitô. Chúng ta được thoát khỏi sự trói buộc của tội lỗi nhờ Thập giá của Chúa Kitô. Chính nơi Chúa Giêsu chấp nhận bị đóng đinh, tự biến mình thành nô lệ, Thiên Chúa đã đặt nguồn cội của sự giải phóng con người. Điều này không bao giờ hết làm chúng ta ngạc nhiên nơi mà chúng ta bị tước bỏ mọi tự do, tức là cái chết, có thể trở thành cội nguồn của tự do. Nhưng đây là mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa Chúng ta không dễ dàng hiểu mầu nhiệm này, nhưng là sống nó. Chính Chúa Giêsu đã công bố điều đó khi ngài nói “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” Ga 10, 17-18. Chúa Giêsu đạt được sự tự do hoàn toàn bởi hiến mình chịu chết; Người biết rằng chỉ bằng cách này Người mới có thể giành được sự sống cho tất cả mọi người. Chính thánh Phaolô đã cảm nghiệm mầu nhiệm tình yêu này. Đây là lý do tại sao ngài nói với tín hữu Galát, với những lời hết sức táo báo “Tôi đã được đóng đinh với Đức Kitô” Gl 2,19. Trong hành động kết hợp hết sức cao độ đó với Chúa, ngài biết mình đã nhận được món quà lớn nhất của đời mình sự tự do. Thật vậy, trên Thập giá, Người đã đóng đinh “xác thịt với những đam mê và ham muốn của nó” 5, 24. Chúng ta hiểu rằng thánh Tông đồ đã tràn đầy niềm tin đến mức nào, đã két hiệp thân mật với Chúa Giêsu đến mức nào. Và trong khi một mặt, chúng ta cảm thấy đây là điều mình còn thiếu, mặt khác, chứng tá của thánh Tông đồ khuyến khích chúng ta tiến bước trong cuộc sống tự do này. Người Kitô hữu được tự do, phải được tự do và được mời gọi đừng quay lại làm nô lệ cho giới luật, cho những điều xa. 2. Hành trình sự thật và tự do Đức Thánh Cha giải thích tiếp Trụ cột thứ hai của tự do là sự thật. Trong trường hợp này cũng vậy, cần nhớ rằng chân lý của đức tin không phải là một lý thuyết trừu tượng, nhưng là thực tại của Chúa Kitô hằng sống, Đấng trực tiếp đụng chạm đến ý nghĩa hàng ngày và tổng thể của đời sống cá nhân. Đức Thánh Cha nhận định về điều này Có bao nhiêu người không học hành, thậm chí không biết đọc và viết nhưng đã hiểu rõ sứ điệp của Đức Kitô, có được sự khôn ngoan này giải thoát họ. Đó là sự khôn ngoan của Đức Kitô được ban bởi Chúa Thánh Thần qua bí tích rửa tội. Ví dụ, chúng ta thấy có bao nhiêu người đang sống sự sống của Chúa Kitô hơn các nhà thần học vĩ đại, họ đã làm nhân chứng tuyệt vời cho sự tự do của Tin Mừng. Tự do làm cho chúng ta tự do theo cách nó biến đổi cuộc sống của một người và hướng người đó đến những điều tốt đẹp. Do đó, Đức Thánh Cha nhận định để được tự do thực sự, chúng ta không chỉ cần biết về bản thân mình, ở mức độ tâm lý, mà trên hết là biết rõ về chính mình ở một mức độ sâu sắc hơn. Và ở đó, trong trái tim, hãy mở mình ra để đón nhận ân sủng của Chúa Kitô. Sự thật phải khiến chúng ta khắc khoải - chúng ta hãy quay lại với từ ngữ rất Kitô giáo này khắc khoải. Chúng ta biết rằng có những Kitô hữu không bao giờ lo lắng họ luôn sống như vậy, không có hoạt động trong tâm hồn, không có khắc khoải. Vì sao? Bởi vì khắc khoải là tín hiệu cho thấy Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong chúng ta và tự do là một sự tự do năng động, được khơi dậy bởi ơn Chúa Thánh Thần. Đức Thánh Cha kết luận Đây là lý do tại sao tôi nói rằng tự do phải quấy rầy chúng ta, nó phải liên tục đặt ra những câu hỏi cho chúng ta, để chúng ta có thể ngày càng đi sâu hơn vào những gì chúng ta thực sự là. Bằng cách này, chúng ta khám phá ra rằng con đường của sự thật và tự do là một hành trình vất vả kéo dài suốt đời. Để duy trì tự do thì vất vả, nhưng không phải là không thể. Hãy can đảm lên, chúng ta tiến bước trên hành trình này và nó sẽ mang lại điều tốt cho chúng ta. Đó là một cuộc hành trình, trong đó Tình yêu xuất phát từ Thập giá hướng dẫn và nâng đỡ chúng ta Tình yêu bày tỏ cho chúng ta chân lý và mang lại cho chúng ta sự tự do. Và đây là con đường dẫn đến hạnh phúc. Tự do giải thoát chúng ta, làm cho chúng ta vui tươi và hạnh phúc. Đau buồn về nạn lạm dụng tính dục trong Giáo hội Cuối buổi tiếp kiến, một lần nữa Đức Thánh Cha bày tỏ sự xấu hổ về thất bại của Giáo hội trong việc đối phó với nạn lạm dụng tình dục. Nhận định về bản báo cáo liên quan đến hàng trăm ngàn trường hợp lạm dụng tính dục của các giáo sĩ ở Pháp từ những năm 1950, Đức Thánh Cha nói “Đây là thời điểm xấu hổ”. Ngỏ lời với các tín hữu nói tiếng Pháp, Đức Thánh Cha nói “Tôi mong muốn bày tỏ với các nạn nhân sự đau buồn của tôi trước những tổn thương mà họ phải chịu”. Và ngài bày tỏ sự xấu hổ về thất bại lâu dài của Giáo hội trong việc đặt các nạn nhân ở trung tâm sự quan tâm của mình. Đức Thánh Cha khuyến khích các giám mục Pháp và các bề trên các dòng tu “tiếp tục cố gắng hết sức để những thảm kịch tương tự sẽ không lặp lại”. Đức Thánh Cha cũng bày tỏ “sự gần gũi và sự nâng đỡ hiền phụ” đối với các linh mục của Pháp khi họ trải qua thử thách “khó khăn nhưng chữa lành” này; đồng thời ngài kêu gọi tất cả tín hữu Công giáo Pháp “đảm nhận trách nhiệm của họ để đảm bảo rằng Giáo hội là ngôi nhà an toàn cho tất cả mọi người”.
“Bởi một người [A-đam] mà tội lỗi vào thế gian và bởi tội lỗi mà có sự chết”.—Rô-ma 512 Bạn sẽ nói gì nếu có người hỏi “Bạn có muốn sống mãi mãi không?”. Đa số người ta có lẽ nói là muốn nhưng cảm thấy thật viển vông. Họ cho rằng cái chết là lẽ thường tình của cuộc sống, sống trên đời này thì ai cũng phải chết thôi. Nhưng giả sử câu hỏi này được đảo ngược lại và có người hỏi “Bạn có sẵn sàng để chết chưa?”. Phần lớn mọi người sẽ trả lời là chưa. Điều này có nghĩa gì? Khao khát được sống là điều tự nhiên và bình thường, dù chúng ta phải gặp nhiều khó khăn gian khổ. Kinh Thánh cho thấy Đức Chúa Trời tạo ra con người với lòng mong muốn được sống. Kinh Thánh nói “Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người”.—Truyền-đạo 311. Tuy nhiên, thực tế là không ai sống mãi mãi cả. Chuyện gì đã xảy ra? Đức Chúa Trời có làm gì để khắc phục vấn đề này chưa? Kinh Thánh đưa ra lời giải đáp đầy an ủi và có liên quan chặt chẽ đến lý do Chúa Giê-su phải chịu khổ và chết. CHUYỆN GÌ ĐÃ XẢY RA? Trong Kinh Thánh, ba chương đầu tiên của sách Sáng-thế Ký cho chúng ta biết Đức Chúa Trời đặt trước mặt cặp vợ chồng đầu tiên là A-đam và Ê-va triển vọng được sống mãi mãi. Ngài cho biết họ phải làm gì để đạt được điều đó. Lời tường thuật cũng kể về việc họ không vâng lời Đức Chúa Trời và mất đi triển vọng ấy. Câu chuyện này được kể lại rất đơn giản đến nỗi một số người nhanh chóng bác bỏ và xem đây là chuyện dân gian. Tuy nhiên, có đầy đủ bằng chứng cho thấy sách Sáng-thế Ký, cũng như Phúc âm, là một quyển sách xác thực mang tính lịch sử. * Việc A-đam không vâng lời Đức Chúa Trời dẫn đến hậu quả gì? Kinh Thánh cho biết “Bởi một người [A-đam] mà tội lỗi vào thế gian và bởi tội lỗi mà có sự chết, nên sự chết trải trên mọi người, vì hết thảy đều có tội” Rô-ma 512. A-đam đã phạm tội khi cãi lời Đức Chúa Trời. Vì thế ông mất đi triển vọng được sống mãi mãi và cuối cùng phải chết. Là con cháu của A-đam, chúng ta bị di truyền tình trạng tội lỗi của ông. Hậu quả là chúng ta bị bệnh, già và chết. Lời giải thích này phù hợp với những khám phá khoa học ngày nay về sự di truyền. Nhưng Đức Chúa Trời có làm gì để khắc phục vấn đề này chưa? ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ LÀM GÌ? Đức Chúa Trời đã sắp đặt để chuộc lại điều A-đam đánh mất và khiến con cháu ông không được hưởng, đó là triển vọng sống mãi mãi. Vậy Đức Chúa Trời đã thực hiện điều ấy như thế nào? Câu Kinh Thánh Rô-ma 623 cho biết “Tiền công mà tội lỗi trả là sự chết”. Điều này có nghĩa rằng cái chết là hậu quả của tội lỗi. A-đam đã phạm tội nên ông chết. Tương tự thế, chúng ta phạm tội nên phải chết. Nhưng chúng ta sinh ra trong tình trạng tội lỗi này dù không phải do lỗi của mình. Vì vậy, Đức Chúa Trời yêu thương đã phái con của ngài là Chúa Giê-su xuống thế gian để nhận tiền công của tội lỗi’ cho chúng ta. Việc đó diễn ra như thế nào? Cái chết của Chúa Giê-su mở ra triển vọng để nhân loại hưởng đời sống hạnh phúc vĩnh cửu Vì một người hoàn hảo là A-đam cãi lời Đức Chúa Trời dẫn đến việc chúng ta phải gánh tội lỗi và cái chết, nên cần có một người hoàn hảo biết vâng lời cho đến chết để giải thoát chúng ta khỏi gánh nặng đó. Kinh Thánh giải thích “Bởi sự không vâng lời của một người mà nhiều người trở thành kẻ có tội, cũng thế, bởi sự vâng lời của một người mà nhiều người sẽ trở nên công chính” Rô-ma 519. Chúa Giê-su chính là “một người” đó. Ngài đã rời khỏi trời, trở thành con người hoàn hảo * và chết thay cho chúng ta. Kết quả là chúng ta có thể hưởng được vị thế công chính trước mắt Đức Chúa Trời và có triển vọng sống mãi mãi. TẠI SAO CHÚA GIÊ-SU PHẢI CHỊU KHỔ VÀ CHẾT? Nhưng tại sao Chúa Giê-su cần phải chết để có được điều này? Chẳng lẽ Đức Chúa Trời Toàn Năng không thể ban hành một chỉ thị rằng con cháu A-đam được sống mãi mãi sao? Chắc chắn ngài có đủ thẩm quyền để làm thế. Nhưng vậy chẳng khác gì Đức Chúa Trời gạt bỏ điều luật mà ngài đã công bố rằng tiền công của tội lỗi là sự chết. Điều luật này là nền tảng của công lý thật và hết sức quan trọng, không phải muốn bỏ thì bỏ, muốn thay đổi thì thay đổi.—Thi-thiên 3728. Trong trường hợp này, nếu Đức Chúa Trời bỏ qua việc thi hành công lý thì có lẽ người ta sẽ nghĩ rằng trong các vấn đề khác ngài cũng thế. Chẳng hạn, liệu ngài sẽ phán xét công bằng không khi quyết định trong vòng con cháu của A-đam, ai đủ tiêu chuẩn để sống mãi mãi? Ngài có đáng tin cậy trong việc giữ lời hứa không? Nhờ Đức Chúa Trời thực thi công lý trong việc cứu rỗi, nên chúng ta tin chắc ngài sẽ luôn làm điều đúng. Qua sự hy sinh của Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời đã mở đường dẫn đến sự sống vĩnh cửu trong địa đàng. Hãy lưu ý những lời của Chúa Giê-su được ghi nơi Giăng 316 “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến độ đã ban Con một của ngài cho họ, để ai thể hiện đức tin nơi Con ấy sẽ không bị hủy diệt mà được sống đời đời”. Cái chết của Chúa Giê-su không chỉ là biểu hiện cho công lý vững chắc của Đức Chúa Trời. Quan trọng hơn nữa, điều đó còn cho thấy tình yêu thương cao cả của ngài dành cho nhân loại. Tuy nhiên, tại sao Chúa Giê-su phải chịu khổ và chết trong nỗi đau tột cùng như sách Phúc âm mô tả? Sa-tan cho rằng con người sẽ không giữ lòng trung thành với Đức Chúa Trời nếu gặp thử thách. Vì vậy, khi trải qua thử thách tột độ nhưng vẫn giữ lòng trung thành, Chúa Giê-su phủ nhận lời cáo buộc đó một lần và mãi mãi Gióp 24, 5. Lời cáo buộc ấy có vẻ đúng sau khi Sa-tan dụ dỗ được một người hoàn hảo là A-đam phạm tội. Nhưng Chúa Giê-su cũng hoàn hảo như A-đam mà vẫn vâng lời dù phải chịu đau đớn tột cùng 1 Cô-rinh-tô 1545. Vì thế, Chúa Giê-su chứng minh rằng A-đam cũng có thể vâng lời Đức Chúa Trời nếu ông muốn. Khi chịu đựng thử thách, Chúa Giê-su đã để lại cho chúng ta một tấm gương 1 Phi-e-rơ 221. Để thưởng cho sự vâng lời trọn vẹn của Con ngài, Đức Chúa Trời đã ban cho Chúa Giê-su sự sống bất tử trên trời. BẠN CÓ THỂ NHẬN LỢI ÍCH NHƯ THẾ NÀO? Cái chết của Chúa Giê-su thật sự đã xảy ra. Sự sống vĩnh cửu đang mở ra trước mắt chúng ta. Bạn có muốn sống mãi mãi không? Chúa Giê-su cho thấy điều chúng ta cần làm “Để có được sự sống vĩnh cửu, họ cần phải tìm hiểu về Cha, là Đức Chúa Trời có thật và duy nhất, cùng đấng mà Cha đã phái đến là Giê-su Ki-tô”.—Giăng 173. Nhà xuất bản tạp chí này mời bạn tìm hiểu thêm về Đức Chúa Trời là Đức Giê-hô-va và con ngài là Chúa Giê-su. Nhân Chứng Giê-hô-va nơi bạn sống rất vui được giúp đỡ bạn. Bạn cũng có thể nhận được những thông tin bổ ích khi truy cập trang web của chúng tôi là
Sự phục sinh của Giêsu là đức tin trong Kitô giáo, rằng sau khi Giêsu chịu khổ nạn và chết, Ngài đã sống lại. Đây là nguyên lý trung tâm của thần học Kitô giáo và là một phần của Kinh tin kính Nicea "Vào ngày thứ ba, Ngài đã sống lại theo Thánh Kinh".[1] Sau này, Lễ Phục Sinh thường được xem là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Kitô giáo. Bức tranh mô tả sự phục sinh của Chúa Giêsu The Resurrection of Jesus Christ do Raphael phác họa Theo Tân Ước, sau khi người La Mã đóng đinh Giêsu, Giêsu được xức dầu và được Giôsép xứ Arimathea an táng trong một ngôi mộ mới nhưng Thượng đế đã làm Giêsu sống lại[2] và Ngài đã xuất hiện trước các nhân chứng trước khi lên Thiên Đàng, để ngồi phía tay phải của Đức Chúa Trời.[3] Các sách Phúc Âm và Công vụ tông đồ đều ghi nhận rằng Chúa Giêsu đã gặp lại các môn đệ tại các nơi khác nhau trong suốt bốn mươi ngày sau khi sống lại, và sau đó về trời từ núi Ôliu nay là Lễ Thăng Thiên. Ngày thứ 50 kể từ sau sự kiện Phục sinh, Chúa Thánh Thần hiện xuống với các tông đồ và loan báo tin mừng, theo Tân Ước, ngày này cũng được xem là ngày khai sinh ra Giáo hội Công giáo. Hầu hết tín hữu Cơ Đốc đều chấp nhận những ký thuật của Tân Ước về sự sống lại của Giêsu là dữ kiện lịch sử và là trọng tâm của đức tin. Tuy nhiên, người ngoài Cơ Đốc giáo thường xem sự kiện này như là một huyền thoại hoặc tìm cách giải thích theo cách ẩn dụ.
Các nhà nghiên cứu đi tìm bằng chứng về việc Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thánh đang xem Tại sao chúa jesus bị đóng đinhChúa Jesus chịu khổ hình trên cây thánh giá. Ảnh Kabir International Business Times, cảnh Chúa Jesus chịu khổ hình đóng đinh trên cây thánh giá là một trong những hình ảnh quen thuộc trong Cơ Đốc giáo. Đóng đinh là một hình phạt thời La Mã. Bị treo trên một giá chữ thập lớn, nạn nhân cuối cùng sẽ chết do ngạt thở hoặc kiệt sức. Quá trình này kéo dài và hết sức đau phạt được sử dụng để làm nhục công khai nô lệ hoặc tội nhân mà không giết họ dành cho những cá nhân có địa vị thấp hoặc phạm tội chống lại giới cầm quyền. Chúa Jesus phải chịu phạt đóng đinh vì ông thách thức quyền lực tối cao của đế chế La Mã khi trở thành vua người Do Meredith J C Warren, giảng viên khoa Nghiên cứu Tôn giáo và Kinh Thánh tại Đại học Sheffield, Anh, việc đóng đinh có thể tiến hành theo một số cách. Theo truyền thống Cơ Đốc giáo, tứ chi được đóng vào giá chữ thập bằng gỗ nhưng chưa rõ phần đóng đinh là bàn tay hay cổ tay. Tuy nhiên, người La Mã không thường xuyên đóng đinh nạn nhân. Thay vào đó, đôi khi họ trói nạn nhân bằng dây thừng. Bằng chứng khảo cổ duy nhất chỉ ra hình phạt đóng đinh nạn nhân là một đoạn xương mắt cá chân từ ngôi mộ của Jehohanan, người đàn ông bị hành quyết vào thế kỷ thêm Học Tiếng Trung Qua Bài Hát Ánh Trăng Nói Hộ Lòng Em 月亮代表我的心Viên đá Constanza khắc hình Chúa Jesus. Ảnh Bảo tàng số sách phúc âm đầu tiên như sách phúc âm Thánh Thomas không tường thuật khổ hình của Chúa Jesus mà tập trung vào quá trình truyền đạo của ông. Tuy nhiên, 4 cuốn sách phúc âm chuẩn mực khác về Thánh Matthew, Mark, Luke, và John đều đề cập tới cái chết của Chúa Jesus sau khi chịu phạt đóng cuốn sách phúc âm nào trong kinh Tân Ước đề cập cụ thể Chúa Jesus bị đóng đinh hay bị trói. Tuy nhiên, sách phúc âm thánh John nói về những vết thương trên cánh tay bị treo lên của Chúa Jesus, dẫn tới niềm tin phổ biến rằng cả bàn tay và bàn chân ông đều bị đóng phúc âm thánh Peter, một cuốn sách từ thế kỷ 1 hoặc 2 không nằm trong kinh Tân Ước, đặc biệt mô tả trong đoạn 21 về những chiếc đinh được lấy ra khỏi tay chúa Jesus sau khi người chết. Tuy nhiên, trong hình khắc trên viên đá Constanza tìm thấy ở khu vực nay là Cộng hòa Dominica có niên đại từ thế kỷ 4, bàn tay của Chúa Jesus dường như không bị đóng đinh vào cây thánh giá với tư thế buông thõng tự nhiên, giống với bị trói ở cổ tay.
tại sao chúa giêsu phải chịu chết